ENGLISH

Đọc "Truyện ngắn kỳ ảo" của Thái Bá Tân - TS.Trần Văn Phương

ĐỌC TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO CỦA THÁI TÂN

     

          Tập Truyện ngắn kỳ ảo của Thái Tân được Nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 2005 gồm 33 tác phẩm chọn lọc. Nói một cách chung nhất  thì đây một thể tài truyện ngắn trong đó các yếu tố ma quái, quái dị, những con người không thật ngự trị. Với  trí tưởng tượng phong phú cùng vốn hiểu biết rộng, sự  từng trải, Thái  Tân đã dựng lên một thế giới khá đa dạng của cái kỳ ảo (Thuật ngữ Fantastique gốc từ La Tinh nghĩa kỳ ảo). thể phân ra làm các nhóm như sau: 1/ Truyện ma (13/33). 2/ Truyện kỳ lạ (7/33). 3/ Truyện huyền sử, huyền tích (4/33). 4/ Truyện nói về sự linh ứng của nghệ thuật (3/33). 5/ Truyện những người khả năng đặc biệt (2/33). 6/ Truyện về ngườimộng hão huyền (2/33). 7/ Truyện thế sự khác thường (2/33). ( Thực ra hai loại truyện sau nghiêng về hiện thực hơn, trong đó cái kỳ ảo chưa thật nổi lắm). thể chỉ ra mổt số đặc điểm như sau :

         1. Nội dung nhân bản bao trùm. Trong tập Truyện ngắn kỳ ảo của Thái Tân thấy loại truyện ma xuất hiện nhiều nhất nhưng không gây sự rùng rợn, kinh hãi lại gợi ra những suy ngẫm về tình người, tình đời, những khát vọng sống tốt hơn, đẹp hơn. TruyệnNgười đàn trùm khăn đenkể về một con ma nữ vốn một thiếu phụ hiền thảo. chết khi chưa đầy ba chục tuổi để lại mẹ chồng già đứa con gái nhỏ không người nuôi nấng, chăm sóc. thế, phải hiện hồn lên thành mộtngười đàn trùm khăn đen đi xin lão Mục ít tôm về nuôi con, nuôi mẹ chồng. Truyện đó đã làm xáo động tâm can lão Mục - một  người vốn ít khi nghĩ ngợi bỗng “đâm ra hay rượu hơn cũng hay suy nghĩ vẩn hơn, đủ thứ chuyện chẳng đâu vào đâu”. rồi lão bỗng một hành động kỳ quặc cho tới lúc  chết ngày nào lão cũng phải tìm đến ngôi nhà của người thiếu phụ (đã chết kia) “ lén lút bỏ một ít tôm lão bắt được vào vũng trâu đằm sau vườn (nơi đứa hay ra bắt ), rồi lén lút vội bỏ đi như một tên trộm thực thụ... Cũng người nói lão bị ma ám, nhưng chắc không phải thế ” (tr.12). Đấy việc lão mật san sẻ chỗ tôm kiếm được để giúp hồn ma nuôi mẹ chồng nuôi con - một việc làm tự nguyện như lương tâm lão muốn lão phải làm như thế.

         Mô-típ ma đẻ con nuôi con một mình còn được tác giả thể hiện rất xúc động qua truyện ngắn  “Hảo Nhạn”. Hảo Nhạn tên cô gái dân quân ở Quảng Bình. Cô đem lòng yêu anh bộ đội pháo phòng không thời chiến tranh chống Mỹ. Ở Quảng Bình tập tục gắn với một quan niệm  lạ đời khi người đàn bà chửa không may bị chết thì mẹ của người chết sẽ đem trồng lên trên mộ một cây chuối, chăm sóc cho nó đơm hoa kết trái để yên tâm dưới ấy đã được mẹ tròn con vuông. Rồi Hảo Nhạn lỡ có thai với anh lính pháo phòng không nhưng không may cô bị chết do pháo Mỹ ngoài tàu biển bắn vào. Thế nhưng anh lính pháo lại không trồng trên mộ cô một cây chuối như đã hứa, vì anh “ hèn nhát không dám để mọi người biết sự thật ”. Thời gian trôi đi, anh bộ đội đã trở thành một ông nhà văn nổi tiếng nhưng không hiểu sao vẫn cứ sống độc thân. Đến lúc ông bị bệnh hiểm nghèo nằm trong bệnh viện Bạch Mai chờ chết không người ruột thịt chăm sóc, bỗng có “ một người đàn bà mặc đồ đen, trùm khăn đen, khoảng bốn mươi tuổi ”đi nhẹ như hơi đến thăm. Theo ông kể lại với các bệnh nhân cùng phòng thì đó chính là đứa con gái duy nhất của ông  do Hảo Nhạn đẻ ở dưới mồ và lớn lên cũng ở dưới mồ! Mẹ nó biết ông sắp chết nên sai con về thăm và nói lời tha lỗi cho cha nó. Ông thều thào:“ Tôi biết thế nào cũng được tha thứ. Hảo Nhạn, cảm ơn em. Cảm ơn con!...”(tr.158). Nỗi ân hận, day dứt đè nặng lương tâm suốt đời ông đã được hóa giải là nhờ vào sự bao dung của mẹ con Hảo Nhạn, của tình người nói chung. Ở truyện ngắn “ Ma quỷ trong lòng ta” cũng lại kể về một người phụ nữ đang mang bầu thì bị bom Mỹ giết chết ở Phủ Lý. Người phụ nữ này đã đội mồ chui lên sinh con rồi đi tìm nhà sư trụ trì chùa Dền nhờ nuôi giùm. Đứa con gái bị câm từ khi lọt lòng mẹ nhưng càng lớn nó lại càng xinh đẹp, tưởng rồi sẽ thay thế nhà sư chăm nom ngôi chùa, nào ngờ năm nó được 17 tuổi bị một thằng đàn ông khốn nạn cưỡng hiếp và nó đã treo cổ chết ngay sau đó. Vị sư già cũng do quá đau đớn  mà chết theo. Còn kẻ đã hãm hiếp nó thì không bị con ma nào bóp cổ, vẫn sống nhơn nhơn và thành đạt, nhưng cả đời hắn ta không sống yên ổn được vì bị lương tâm cắn rứt. Lúc sắp chết hắn ta mới tiết lộ: “ Các vị thấy đấy, hóa ra tôi, một con người, thậm chí còn được coi là người tốt, mà lại xấu hơn cả ma. Ma...còn cố gắng đẻ con cả sau khi chết và đưa nó ra khỏi mồ nhờ người đời nuôi hộ. Vậy mà tôi lại đang tâm giết nó...Chính ma quỷ (trong lòng) đã xúi tôi gây tội ác, và rồi ma quỷ đã bắt tôi phải trả giá âm thầm suốt bao nhiêu năm nay ”(tr.286-287). Lời sám hối muộn màng đã cảnh tỉnh cho những người đang sống khi muốn nhúng tay vào tội ác. Khát vọng lớn nhất của con người là khát vọng tình yêu, hạnh phúc, khi  thành ma  khát vọng ấy vẫn không nguôi thôi thúc. Truyện ngắn “Bạch Ngọc” kể về một cô gái xinh đẹp, nết na, học giỏi, là con gái “rượu” của một vị bộ trưởng. Cô đã tốt nghiệp đại học, đang học tiếp lên cao học, chuẩn bị đi du học Anh quốc. Vậy mà chỉ vì tai nạn giao thông bắt cô chết khi chưa kịp biết tình yêu là gì! Ba ngày sau cái chết oan nghiệt, cô đã hiện hồn lên tìm cách trao thân cho một chàng trai làm nghề dạy học, chưa lấy vợ, bởi vì: “Như tất cả các cô gái khác, Bạch Ngọc không muốn chếtmà chưa được biết cảm giác hạnh phúc cái hôn của một người đàn ông. Đó là nỗi sợ thầm kín, có thể vớ vẩn, nhưng rất thật và rất con gái”(tr.168).Truyện “Bướm trắng” kể về mối tình của một anh chiến sĩ lái xe quân sự  tên là Xuân Sinh với một cô gái thanh niên xung phong người Huế tên là Bạch Điệp. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng hoàn cảnh chiến trường không mấy khi được gặp nhau. Rồi Bạch Điệp hy sinh vì bị trúng rốc két của giặc khi đang làm nhiệm vụ hướng dẫn đoàn xe vượt Cổng Trời. Nhưng cô không chịu chết mà vẫn hiện hồn lên  dẫn dắt đoàn xe vượt qua nơi nguy hiểm. Và cô vẫn không rời vị trí chiến đấu của mình đến hết cuộc chiến tranh. Hòa bình lập lại, Xuân Sinh không về thẳng nhà mà quay trở lại Cổng Trời tìm mộ Bạch Điệp. Nhờ con bướm trắng cánh bị rách đưa đường vào hang, Xuân Sinh được gặp hồn ma Bạch Điệp. Rồi bằng sức mạnh và sự kỳ diệu của tình yêu anh đã cứu chữa cho cô sống lại. Anh đưa cô về quê anh ở làng Đoài ( Phú Xuyên - Hà Tây). Hai người chung sống với nhau  hạnh phúc như mọi cặp vợ chồng khác, chỉ “ có điều họ không có con. Lần nào Bạch Điệp cũng sinh cho chồng toàn bướm là bướm. Những con bướm màu trắng tuyệt đẹp với những đôi cánh lành lặn” (tr.74).

         Trong thế giới ma của Thái Bá Tân toàn là loại ma tốt bụng, tiêu biểu như con ma cụt đầu trong truyện “Bài ca buồn”. Cuộc đời cái Nụ là một bài ca buồn khi sống với thế giới người, bởi  không ai đối xử tốt với nó cả. Chỉ có một con ma không đầu do bị chết chém là quan tâm đến nó mà thôi, làm cho cái Nụ cảm động cương quyết xin được ở lại cùng ma vì: “Là ma, nhưng bác tốt bụng.Bác là người... là con ma đầu tiên thực sự thương yêu cháu. Bên bác, cháu cảm thấy no hơn, ấm hơn và đỡ sợ hơn” (tr.276). Trong “Trò đùa của sự ngẫu nhiên” nhân vật ma còn biết dạy cho vị giáo sư đáng kính cả đời toàn những may mắn và thành đạt cần phải biết cảm thông với những nỗi bất hạnh của đồng loại. Hay như trong truyện ngắn “Mất ngủ” hồn ma bé Hồng hiện lên như là để phán xét thói vô cảm, dửng dưng, vô trách nhiệm của những người lớn đã thờ ơ với tính mạng của một em bé yếu đuối như thế nào v.v...

         Trong loại  truyện kỳ lạ và loại truyện về những người có khả năng đặc biệt Thái Bá Tân một mặt ngợi ca những người biết sống vì người khác (Người lương thiện); những người biết yêu quý tuổi trẻ của mình (Người bán tuổi); biết yêu cái đẹp, cái thiện và căm ghét cái ác (Nhài); biết sống nhân hậu, bao dung (Những giấc mơ ngớ ngẩn); biết cảnh giác trước những trò lừa mị nguy hiểm (Ai cho kẹo đừng ăn) v.v...Trong truyện ngắn “Chiến tranh” tác giả kể về một trường hợp rất lạ kỳ: Người chồng đi chiến đấu xa, người vợ ở nhà mòn mỏi chờ đợi chồng đúng mười năm trời mà không có một mẩu tin tức gì. Vậy mà khi hết chiến tranh người chồng trở về lại phát hiện vợ có chửa, mà là có chửa với chồng, có chửa do những đêm nằm mơ được chồng về ôm ấp, ân ái. Tất nhiên người chồng không thể tin vào điều kỳ quoặc đó mặc dù đứa con sinh ra thấy giống mình như đúc. Thế là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vừa chấm dứt đã lại nổ ra cuộc chiến tranh trong tình cảm vợ chồng! Người anh hùng từ chiến trường trở về vừa vấp phải cái ngưỡng cửa đời thường đã  ngã gục, bởi vì anh ta đã “không vượt qua nổi cái trở ngại tưởng như rất bé kia, để chấm dứt đau khổ cho chính bản thân mình và cho người mình yêu quý nhất. Thật bất công mà cũng thật chua xót” (tr.82).

 

         2. Những vấn đề triết luận thâm thúy, thú vị. Cái làm nên sức hấp dẫn trong tập Truyện ngắn kỳ ảo của Thái Bá Tân không chỉ ở nội dung nhân bản mà còn ở những vấn đề triết luận thâm thúy, thú vị. Đây là chỗ tác giả phát huy vốn kiến thức văn hóa và sự từng trải lịch lãm của mình. Chẳng hạn truyện “ÊRÔSTRAT”- Kẻ đốt đền Artêmis trở thành nổi tiếng trong thần thoại Hy Lạp đã từng được sách báo nói đến nhiều. Bao nhiêu giả thiết nêu ra để giải thích hành động ngông cuồng của hắn lại càng làm cho hắn bất tử! Cái nghịch lý ở đây là: Những người lặng lẽ xây dựng lên ngôi đền - một kỳ quan thế giới bằng đá hoa cương - thì không được một ai nhắc đến, còn kẻ châm lửa đốt đền lại được nhắc nhở liên tục suốt bao nhiêu năm qua! Đưa ra câu chuyện này để đi tới triết luận: Êrôstrat - kẻ đốt đền Artêmis - không chỉ bất tử mà còn trở thành một vị thần ác! Hắn đã “được dựng tượng từ lâu, không phải ngoài quảng trường mà trong lòng người. Không phải để phỉ báng, ném đá, mà là để tôn thờ” (tr.384) - Ở đây là tôn thờ cái ác, mà cái ác luôn luôn có mặt cùng với cái thiện trong mỗi một con người dù chúng ta thường không muốn thừa nhận nó. Để phát triển ý này, truyện “Người rắn” lại có cách triết luận thâm thúy khác: cái ác và cái thiện có thể đổi chỗ cho nhau. Khi còn sống hắn là hiện thân của sự xảo trá, ác độc và chuyên đi trộm cắp. Một lần hắn vào chùa Bồm ăn trộm xúc phạm tới thần linh nên đã bị chết một cách bí ẩn bên bờ sông Bùng. Sau khi hắn chết trong làng lại xuất hiện một người rắn khác (tức là ma rắn) chuyên đi làm việc thiện, là vị thần bảo hộ cho dân làng, được dân làng tôn thờ: “Người Rắn là thần thiện chứ không phải thần ác” (tr.298). Truyện ngắn: “Mạc Gia thư kiếm” dẫn dắt từ tích của Đông Chu Liệt Quốc: Can Tương là một thợ kim khí giỏi của nước Ngô đã đúc được hai thanh kiếm báu bèn đặt tên cho kiếm là Can TươngMạc Gia. Nghe đồn để đúc được kiếm báu ông ta đã phải hy sinh vợ yêu là Mạc Gia bằng cách bảo vợ (hoặc bắt vợ ?) nhảy vào lò đang luyện kiếm để cho kiếm có “nhân khí”. Thế rồi trời xui đất khiến thế nào mà nhà văn lại có được Mạc Gia thư kiếm. Từ khi có thanh kiếm báu ông lúc nào cũng cảm thấy chân tay “ngứa ngáy muốn làm điều gì. Sự ngứa ngáy của người có sức mạnh muốn đem ra sử dụng” - Nghĩa là đã xuất hiện một sự thay đổi trong con người nhà văn theo hướng hiếu sát. Từ đó tác giả triết luận: “Một người bình thường có thể sống thảnh thơi, hạnh phúc suốt đời nếu không vì bỗng nhiên có được sức mạnh hay loại vũ khí phi thường nào đó. Lúc ấy mọi việc sẽ phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều. Cho mình và cho người khác” (tr.49). Truyện  ngắn “Kiêm Quận công Thái Bá Kỳ” nhà văn kể về tổ tông nhà mình với niềm tự hào về lịch sử dòng họ gắn rất chặt với lịch sử đất nước: “Thi thoảng tôi giấu gia đình vào Quốc Tử Giám ngồi tựa lưng vào tấm bia có khắc tên cụ tổ để được gần cụ, được hưởng chút hơi hướng văn thơ của cụ, hoặc đơn giản được sung sướng nghĩ rằng tôi là người có gốc có rễ, gốc rễ bám rất sâu vào lịch sử dân tộc”(tr.110). Truyện “Người rách bóng” kể về một ông già đang ngồi trên ghế đá trải bóng mình sưởi nắng ở công viên Thống Nhất  thì bị một chàng trẻ tuổi vô tình dẫm lên làm rách mất bóng của mình. Thấy ông già bỗng nhiên đau đớn khổ sở chàng trẻ tuổi không thể hiểu được vì sao người ta lại có thể cảm thấy đau khi bóng mình bị người khác dẫm lên. Ông già giảng giải rằng: “Đơn giản vì anh bạn còn trẻ. Khi người ta già, từng trải, nếm hết mọi cái vui, cái buồn của đời, người ta sẽ trở nên nhạy cảm, rất nhạy cảm với nỗi đau của mình và của người khác. Vì trẻ, anh chưa thấy đau, thậm chí chưa bao giờ nghĩ nghiêm túc rằng cái bóng là một bộ phận không thể tách rời của chính anh. Tôi dám chắc nhiều khi anh chẳng chút băn khoăn để bóng anh rơi xuống chỗ bẩn”. Ông già bị chàng trẻ tuổi vô tình làm rách bóng dẫn đến cái chết. Điều đó ám ảnh chàng trẻ tuổi, làm cậu ta day dứt không nguôi và từ đó biết trân trọng cái bóng của mình: “Chí ít là sau cái chết của ông, bao giờ tôi cũng nhắc mình cẩn thận không để bóng rơi vào chỗ bẩn thỉu, không dẫm lên bóng người khác và không để người khác dẫm lên bóng của mình” (tr.407) v.v...

          Thái Bá Tân còn có hẳn một mảng triết luận về nghệ thuật khá thú vị. Truyện “Vẽ ác” chẳng hạn. Một họa sĩ được học hành bài bản, có tài, vẽ nhiều và vẽ giỏi, đặc biệt có sở trường vẽ  tả thực. Ông ta vẽ rất tỉ mỉ, rất giống thật, giống hơn cả chụp ảnh! Mà ông ta lại chỉ thích vẽ những cảnh chém giết ghê rợn, tỉ như bức vẽ vua Agamênôn thống lĩnh quân đội Hy Lạp đang tự cầm thanh kiếm cứa vào cổ con gái yêu của mình là Iphighênia để làm vật tế thần trong cuộc chiến tranh T’roa. Bức vẽ tả thật này đã bị bà vợ ông ta dùng con dao thái thịt đâm luôn mấy nhát vì: “Kinh lắm! Tôi không chịu nổi! Nghệ thuật hay không thì cảnh chém giết cũng đáng kinh tởm! Ông không biết vẽ gì tử tế hơn à ?” (tr.144). Ông ta đành bỏ nhà lên chân núi Tam Đảo, nơi có hồ nước nhỏ tìm nơi yên tĩnh để vẽ. Dân tình ở đấy đón tiếp ông thật niềm nở. Ông vẽ bức Prômêtê bị xiềng và một con chim màu đen khổng lồ đang xé ngực moi tim chàng để ăn. Bức vẽ tả thật này lại gây bao sự rắc rối khủng khiếp cho dân tình sở tại. Cuối cùng ông ta lại phải cuốn xéo đi nơi khác vì bị dân làng xua đuổi với lý do: “Vẽ ác cũng gần như làm ác vậy” (tr.151). Thế nhưng hiền lành, vô hại, suốt đời chỉ ngồi cười như ông tượng đá trong truyện ngắn cùng tên có được yên ổn không? Thơ cổ Triều Tiên có một bài triết lý: “ Một ông mù/ Dắt một ông mù khác qua cầu/ Cầu thì hẹp, sông thì sâu/ Nhiều lần suýt ngã/ Thế mà bên đường, ông tượng đá/ Còn ngửa mặt lên cười”. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là ở ngay quê tác giả cũng có một ông tượng đá ngay cạnh cầu Hạ, trên nền một ngôi đền cổ đã bị phá để làm trụ sở ủy ban. Ông tượng đá lúc nào cũng  tươi cười, cười gì không ai biết, người ta tạc ông ra để cười thì ông cứ việc cười. Một nụ cười vô hại. Thế mà trong làng lại có kẻ luôn bị nụ cười của ông tượng đá ám ảnh đến mất ăn mất ngủ. Đó là lão Kền - Lão đã được tác giả tặng quyển sách có bài thơ cổ nói trên. Nguyên nhân là vì cha lão một đêm uống rượu say ngật ngưỡng đi qua cầu Hạ bị ngã xuống sông chết đuối. Ông tượng đá trông thấy vậy đã không cứu vớt lại  còn ngửa mặt lên cười: “Đến bây giờ vẫn cười. Đồ đểu! Đồ bất nhân!”. Không chịu được nữa lão bèn xách búa ra điên cuồng hành hạ pho tượng suốt mấy đêm liền, cứ nhè vào nụ cười mà đập, biến ông tượng cười thành ông tượng khóc, ngửa mặt lên  mà khóc, suốt đời phải khóc. Rồi lão Kền bỗng bị chết đột tử trên cầu Hạ. Người ta đồn khi chết, miệng lão cũng méo xệch giống hệt như miệng ông tượng đá khóc. Tác giả rút ra triết lý: “ Đáng lẽ tôi không nên tặng lão Kền tập thơ kia để đầu óc bệnh hoạn của lão có thể suy luận theo cách tai hại này...Nó là một tác phẩm xinh xắn, đẹp một cách cổ điển và gợi đôi chút triết lý nhẹ nhàng. Chỉ thế thôi, và chẳng đáng, chẳng nên suy diễn những điều đao to búa lớn. Lại càng chẳng đáng vì nó mà mất một nụ cười, dù đó chỉ là nụ cười của một  tượng đá ”(tr.312). Truyện ngắn “Những con rối” nêu triết lý về các nhân vật nhỏ bé, dễ thương của thế giới nghệ thuật té ra cũng chẳng hề đẹp đẽ hơn cái thế giới có thật của con người: “ Cứ làm thân phận con rối cho người ta giật giây chưa đủ nhục (hay sao?), chúng còn tự gây thêm cho mình những phiền toái mới ”(tr.233) thật đáng tiếc lắm thay!

         Mảng triết luận về thế sự trong tập truyện ngắn này cũng có nhiều điểm mới và khá độc đáo. Chẳng hạn truyện “Nhân danh công lý” nói về một Bao Công thời nay chuyên đi trừng trị bọn tham nhũng (giống như kẻ giết người hàng loạt nhưng chỉ giết kẻ đáng tội chết) để đi tới triết luận: “Cái anh Bao Công này chính là nhân dân. Hay nói chính xác hơn, ý nguyện của nhân dân...Cũng vì là nhân dân, Bao Công sẽ không bao giờ ngừng đấu tranh. Vậy thì bọn tham nhũng hãy liệu hồn! Lưới trời lồng lộng, chạy làm sao cho thoát” (tr.226). Truyện ngắn “Sành điệu”đề cập một hiện tượng không lành  mạnh trong xã hội hiện đại - Sành điệu là thuật ngữ dùng cho những người trẻ tuổi biết chơi chịu chơi - Ngày nay trong xã hội có một lớp người có thể nói là đặc biệt và khá nổi bật. Đó là những nam thanh nữ tú làm việc cho các công ty nước ngoài. Họ lắm tiền, lịch sự, không đua đòi mua sắm, là khởi đầu cho một thế hệ công chức mới của đất nước. Phi Hùng là một trong số đó. Dáng thư sinh, đẹp trai, lại là người chỉn chu, nghiêm túc, có năng lực chuyên môn cao, anh chỉ biết chuyên tâm cho công việc được giao mà không biết chơi bời sành điệu. Một lần anh tình cờ gặp lại Long - bạn cùng lớp đại học. Cả hai đều học giỏi nổi tiếng nhưng khi tốt nghiệp mỗi người lại đi theo một ngả khác nhau. Long từ bỏ cơ quan nhà nước để thành lập công ty riêng - hiện đang là Giám đốc Công ty Bình Long chuyên nhập thiết bị hạng nặng đã qua sử dụng tại Hàn Quốc. Chưa đầy 30 tuổi nhưng Long đã có vẻ  già dặn trong trường đời và quá sành điệu trong hưởng thụ. Long rủ rê Phi Hùng vào chốn ăn chơi hưởng lạc của bọn thừa tiền thừa bạc. Đó là để ăn món óc khỉ sống: phải là con khỉ đang còn sống nguyên được nhốt trong chiếc cũi i-nốc sáng loáng, chính giữa có một lỗ hổng rộng là chỗ cho chỏm đầu của con khỉ  đã được cạo sạch lông nhô lên run run, nom như chóp quả dừa. Trong cũi, con khỉ  như đứa trẻ yếu ớt đang chắp hai bàn tay bé xíu đầy long lá vái lạy lia lịa. Với quan niệm đã ăn chơi phải tàn bạo, Long tỏ ra quá  sành sỏi khi thao tác món ăn này: Sau khi dùng con dao sắc bén phạt đứt chỏm đầu con khỉ:“ Trong tiếng kêu ai óan của con vật, Long thích thú và điêu luyện thản nhiên múc từng thìa nhỏ óc khỉ, nhúng vào chiếc lẩu đang sôi rồi cho vào miệng ăn ngon lành ”.Con vật càng kêu khóc lại càng làm cho hắn thích thú và kích thích hắn ăn ngon miệng hơn! Sau bữa tiệc kinh hãi đó, Phi Hùng trở về nhà mơ thấy oan hồn con khỉ hiện về chắp hai tay vái lạy xin lại bàn chân và chiếc chóp hộp sọ (là những thứ Long đã lén bỏ vào túi áo của Phi Hùng). Một thời gian sau Phi Hùng phát điên! Có lần Long gặp lại bạn cũ cảm thấy thương hại bèn dắt Phi Hùng vào quán cơm bụi chiêu đãi một bữa thật xả láng. Khi chia tay, đứng nhìn theo bạn mình vừa đi vừa cười - một nụ cười ngẩn ngơ, mếu máo, Long bỗng bật ngay ra triết lý: “ Cái thằng này hóa ra thế mà độc đáo. Sống điên. Làm thằng điên. Sành điệu ra phết! ” (tr.420). Rồi hắn cứ thản nhiên làm giàu và làm từ thiện, ngày càng tỏ ra sành điệu hơn, thản nhiên làm nhiều bạn quý khác cũng hóa điên như Phi Hùng mà không cảm thấy áy náy gì...  

 

        3. Một nghệ thuật biểu hiện đậm chất kỳ ảo. Tập Truyện ngắn kỳ ảo của Thái Bá Tân đã dựng lên một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú và đậm màu sắc kỳ ảo với đủ mọi loại người: từ bậc giáo sư tiến sĩ, doanh nhân thành đạt, bộ đội, thanh niên xung phong, người giàu nhất hành tinh, người đã được phong thần, người đã chết... đến đứa bé ăn mày và có cả gái làm tiền. Có những nhân vật từ đời thượng cổ đến những người đang ở đâu đó ngoài đường phố vừa bước vào trang sách. Loại nhân vật xuất hiện nhiều nhất và thể hiện rõ nhất tư tưởng nhân bản của tác giả là nhân vật ma và phù thủy. Nhiều hơn cả là ma nữ xuất hiện để thực hiện thiên chức tính nữ như thiên chức đẻ con, nuôi con (Người đàn bà trùm khăn đen; Ma quỷ trong lòng ta; Hảo Nhạn); thực hiện khát vọng tình yêu (Bướm trắng); hoặc chỉ để biết cảm giác ngọt ngào hạnh phúc trong vòng tay một người khác giới (Bạch Ngọc). Từ một cáibàn tay - dụng cụ dùng để gãi lưng mua từ Trung Quốc - tác giả gợi lại câu chuyện về nàng Tiểu Ái nữ sĩ và là tì thiếp yêu của Thái tử Đan nước Yên cách đây hơn hai ngàn năm. Kinh Kha có lần ngồi nghe nàng gẩy đàn đã buột miệng trầm trồ khen đôi tay đẹp. Thế là sau đó ít lâu, Thái tử Đan chặt đôi tay của nàng dâng cho Kinh Kha để kích Kha đi hành thích  Tần Thủy Hoàng. Kha cho mời thầy thuốc giỏi ướp khô đôi tay quý ấy và luôn mang theo bên mình. Sau  khi Kha bị giết chết, đôi tay ấy lưu lạc khắp nơi, cuối cùng một tay đã bị thiêu cháy cùng với Di Hòa Viên của Từ Hy Thái hậu, còn một tay  lại chính là cái gãi lưng  mà nhà văn đã tình cờ mua được tại một tiệm đồ cổ. Câu chuyện nghe hoang đường nhưng đâu có quan trọng - tác giả kết luận: “Cái quan trọng là từng có một cô gái bị chặt tay như thế, và nhờ ông (tức người kể chuyện này) mà cô gái ấy đã sống lại, được mọi người biết đến, được cùng ai đó làm đàn bà trên giường” (tr.39). Té ra cái khát vọng đàn bà của Tiểu Aí vẫn âm ỉ suốt hai ngàn năm qua, chỉ chờ có dịp là bùng dậy! Có ma đàn ông như con ma bị chết chém trong “Bài ca buồn” hiện lên để an ủi cô gái bất hạnh; hoặc như trong “Trò đùa của sự ngẫu nhiên” con ma đã dạy cho kẻ hãnh tiến một bài học là phải biết cảm thông với nỗi bất hạnh của người khác; hoặc có con ma rất tình nghĩa như trong “Đừng đùa với ma” v.v… Còn loại nhân vật phù thủy tiêu biểu như trong “Người bán tuổi”: “ Người lão bé choắt, khuôn mặt gầy, đen xỉn, đầy những nếp nhăn sâu, đặc biệt trên trán và hai bên khóe mắt… Chiếc mũi lão nhọn, kéo xuống gần miệng, nhưng không khoặm. Trên mũi là chiếc kính trắng mắt tròn và nhỏ như kính thầy bói. Các ngón tay lão dài, chỉ còn da bọc xương, nhưng khá sạch và không có móng nhọn như phù thủy. Còn đôi môi lão thì đúng là môi phù thủy - mỏng, nhỏ, bên ngoài xám ngoét nhưng càng sâu vào trong càng đỏ, đỏ như máu. Cả đôi mắt và giọng nói cũng đúng là của phù thủy. Ở chúng có cái gì đấy rất độc ác và đáng sợ ” (tr.131). Tiếp đến là loại nhân vật đã được phong thần như Kiêm Quận công Thái Bá Kỳ được vua ban tặng sáu chữ vàng “Trí dũng trung đẳng đại vương”, được đúc tượng thờ trong đền thờ chính ở xã Kim Lai ( Đông Triều - Quảng Ninh) - Đây là loại nhân vật có năng lực đặc biệt và khi chết rồi rất linh thiêng. Các nhân vật trong “Đứa bé ăn mày” và “Người rắn” cũng được tôn làm thành hoàng làng. Một nhân vật thần thoại là Êrôstrat - Kẻ đốt đền được tôn thờ như một vị thần ác trong lòng mọi người. Một loại nhân vật nữa là những người có khả năng  nhìn thấy trước những điều xảy ra trong tương lai như ông bác sĩ trong “Người lương thiện” hay vị giáo sư N trong “Những giấc mơ ngớ ngẩn”( Lý do họ có khả năng đặc biệt như vậy được giải thích: Giáo sư N thì bị sét đánh không chết, còn ông bác sĩ bị thằng con trong lúc vui đùa cầm chiếc kìm đâm mạnh vào nửa sau bên trái đầu bố ). Còn loại khác nữa như người có thể bốc hơi biến thành một dạng vật chất  không nhìn thấy là do ăn kẹo của người lạ mặt (Ai cho kẹo đừng ăn), hoặc như ông Bill Gates mới chế ra một loại Computer đặc biệt: Chỉ cần lập trình rồi ấn nút một cái là có thể gửi được viên trợ lý tới bất cứ nơi nào trên trái đất mà ông ấy muốn - Tất nhiên chỉ trong trường hợp thật cần thiết. (Số phận một thiên tài). Nhiều trường hợp kỳ lạ không thể giải thích được như trường hợp người vợ nằm mơ được ngủ với chồng mà mang bầu (Chiến tranh); hoặc người có thể đem tuổi mình ra bán (Người bán tuổi); hoặc người có thể đi thang máy lên thăm thiên đàng (Thang máy lên thiên đường); hoặc người bị chém đứt đầu có thể lượm đầu chắp lại để tiếp tục đánh giặc (Kiêm Quận công Thái Bá Kỳ); hoặc người có thể  trải bóng mình ra phơi nắng (Người rách bóng)v.v…

        Để thể hiện những câu chuyện kỳ ảo với những nhân vật kỳ ảo như thế không thể không nói đến một thứ văn chương kỳ ảo. Một nguyên tắc của văn chương kỳ ảo là “lấy mộng làm mỹ” tức là dùng mộng để thể hiện cái đẹp, dùng mộng tạo ra sự hư ảo, kỳ lạ, biến hóa, quái đản. Khảo sát tập Truyện ngắn kỳ ảo của Thái Bá Tân thấy quả đúng là ông đã vận dụng nhiều mộng ảo để  xây dựng  nên tác phẩm. Chẳng hạn trong “Bướm trắng” mối tình của Xuân Sinh và Bạch Điệp giống như trong giấc mộng : họ lấy nhau không sinh con đẻ cái mà chỉ sinh ra toàn bươm bướm trắng có phải do xuất phát từ cái tên mang tính biểu tượng của cô gái là Bạch Điệp hay chăng? Hay trong “Số phận một thiên tài” với câu chuyện sống như trong mơ của nhân vật chính suốt cả năm trời như hắn phải thừa nhận: “Thế là rốt cuộc, hắn cũng chẳng biết chính xác quãng thời gian đế vương kia là chuyện có thật hay chỉ là một giấc mơ đẹp” (tr.202). Nhiều tác phẩm khi kết thúc tác giả vẫn nhắc lại rằng đó có thể chỉ là giấc mơ đấy thôi. Ông đã dùng giả tưởng, mộng ảo để phản ánh cuộc sống. Như truyện ngắn “Bướm trắng” nếu bóc đi lớp màn thần bí “Liêu Trai” thì hiện thực tươi rói, sống động và bi tráng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại được dựng dậy thông qua những con người đã làm nên cuộc kháng chiến thần thánh ấy - anh bộ đội lái xe và cô thanh niên xung phong. Cái quan trọng là nó thể hiện được sức sống mãnh liệt của khát vọng tình yêu hạnh phúc đời thường vượt lên trên bom đạn của kẻ thù, vượt lên trên cả lẽ sống chết thường tình. Hay chẳng hạn như truyện ngắn “Người bán tuổi” kể về một chàng sinh viên con nhà nghèo học giỏi, đẹp trai, thông minh, lịch sự, giàu lòng tự trọng, chỉ có mỗi tội là hắn quá nghèo. Hắn tìm mọi cách để có tiền ăn học như làm gia sư, viết thuê luận án, cố học thật giỏi để nhận học bổng và tham gia các chương trình dự án. Hắn sĩ diện đến gàn dở là không chịu vay tiền ai mà đem cầm cố dần đồ đạc của mình. Cuối cùng không còn gì để bán, hắn chấp nhận bán cái quý nhất của con người là tuổi trẻ cho lão phù thủy để có tiền học tiếp. Thế là xảy ra chuyện có một dạo báo chí Thủ đô đưa tin ầm ĩ về một cậu sinh viên năm thứ ba bỗng nhiên biên thành một ông già lụ khụ. Học xong “cụ” được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy. Nay “cụ” đã trở thành một vị giáo sư tiến sĩ đáng kính - niềm tự hào của trường và của cả đất nước. Chỉ có điều lạ là trong khi giảng bài, “cụ” luôn nhắc nhở các học trò rằng: “ Các em phải luôn nhớ rằng trên đời này không gì quý bằng tuổi trẻ, và trong bất kỳ trường hợp nào, các em cũng không được để mất nó, cũng như không được đánh đổi nó kấy bất kỳ cái gì khác ” (tr.141). Còn lão phù thủy chuyên mua tuổi thì chẳng may bị tai nạn giao thông ở quận Gò Vấp và đã chết. Điều kỳ lạ là “ lúc ông ta tắt thở, các bác sĩ rất ngạc nhiên khi thấy toàn thân ông ta rữa ra và bốc hơi rất nhanh, cuối cùng chỉ còn lại một ít xương mủn trên chiếc giường bệnh trải ga trắng ông ta vừa nằm ” (tr.141). Gạt bỏ đi lớp sương khói hoang đường quái dị, tác phẩm phản ánh một tình trạng nhức nhối hiện nay là hiện tượng những sinh viên phải lăn lộn kiếm sống để có tiền học, thậm chí có em phải bán cả những thứ quý giá nhất của mình. Hay như tác phẩm “Tờ bạc giả”: Hai bà cháu ăn mày đói lả dắt nhau tới làng Dừa thì trời đã xế chiều. Trước đó họ đã nghỉ lại khá lâu ở Đền Nghè và con bé do mệt quá bỗng  thiếp đi. Nó mơ thấy được đưa đến nơi sang trọng tha hồ ăn uống, lại có nhiều tiền mới cứng. Nó mừng rỡ nhặt tờ một trăm ngàn đồng định sẽ lén thay tờ tiền âm phủ mà nó đã trót nói dối để an ủi bà nó, vì bà nó mù đâu có phân biệt được tiền thật tiền giả. Bỗng có ai đó đánh mạnh vào tay làm nó tỉnh dậy. Thế mà đến khi bà nó móc túi đưa tờ tiền sai nó đi mua bánh chưng  nó chợt sửng sốt thấy đúng là tiền thật. Hai bà cháu ăn chung chiếc bánh chưng hết một ngàn. Số tiền còn lại có ai ngờ lại bị chính thằng bố đẻ của con bé và là cháu họ bà lão mò đến cướp mất. Tác giả chua chát kết luận: “ Thật buồn rằng trên đời vẫn còn những thằng bố, những đứa cháu như vậy. Đó là một sự thật mà muốn hay không chúng ta vẫn phải chấp nhận ” (tr.353). Bên cạnh thủ pháp mộng ảo và cốt truyện giả tưởng, Thái Bá Tân còn khéo léo kết hợp những câu chuyện huyền sử, huyền tích, thần thoại với những câu chuyện có thật để tạo không khí hư hư thực thực. Đây là lối viết sở trường của người đọc nhiều sách vở, am hiểu kim cổ tây đông. Nhà văn Nguyễn Khải có lần đã nói đại ý rằng quan trọng nhất là phải có được cái cốt (nên hiểu là cốt truyện) nào đó có thể chuyển tải được ý tưởng, còn chi tiết có thể thêm thắt vào. Thái Bá Tân với những truyện ngắn như Êrôstrat, Tiểu Aí, Mạc Gia Thư Kiếm, Kiêm Quận công Thái Bá Kỳ, Ông tượng đá là những tác phẩm tiêu biểu cho hướng kết hợp này của ông. Cái quan trọng là  bằng cách ấy ông đã tỏ rõ được chính kiến, đưa ra cách lý giải của riêng mình bằng một thứ văn chương ma mị với những triết luận thâm trầm, sâu sắc và rất thú vị.

 

                                                                             Quy Nhơn ngày 6 tháng 3 năm 2008